hai vấn đề to lúc nâng “chất” giáo dục đại học

thể nhận thấy rằng, đổi mới giáo dục đại học ngày một phát triển thành bức bách hơn bao giờ hết, nhất là trong bối cảnh hội nhập đã cận kề gia su lop 9 , cộng đồng kinh tế ASEAN đã có mặt trên thị trường cánh cửa rốt cục của hội nhập đã được mở…Vậy đâu sẽ là nơi cung ứng nguồn nhân công chất lượng cao phục vụ hội nhập?

ai cũng trông thấy được vấn đề là phải chóng vánh làm cho liền khiến cho ngay cách tân giáo dục đại học nhưng liệu mang thể khiến cho ngay được trong 1 sớm một chiều lúc giáo dục đại học vẫn tồn tại quá phổ quát vấn đề muôn thuở?

Lỗ hổng nghiên cứu kỹ thuật

các chuyên gia đã cảnh báo trong khoảng lâu nhưng qua mấy chục năm vẫn chưa chuyển biến gì đáng nhắc, số lượng sáng chế và ứng dụng thực tại của những trường đại học ở Việt Nam là quá hạn chế, rất buồn lúc phải so sánh những phát minh “tay ngang”, những nhà kỹ thuật “chân đất” hàng ngũ giáo sư tiến sỹ trong các trường đại học.

những trường đại phải coi nông dânnhững người thừa hưởng thụ dự án công nghệ của mình chứ không nên để các người nông dân phát triển thành những người “đồng nghiệp”, đối tượng để phố hội so sánh mỗi khi đề cập về ngành nghề nghiên cứu công nghệ.

Theo báo điện tử VietnamNet, GS Nguyễn Văn Tuấn – Đại học New South Wales, Australia từng Con số, chỉ cần khoảng 1998 – 2008, Việt Nam chỉ công bố được 5070 bài báo kỹ thuật trên các tập san khoa học quốc tế, bằng 2% của Úc (238.076), 10% so Singapore (51.762), 22% so với Thái lan, và 34% so sở hữu Malaysia (1.431).

ko ai thể cấm quyền được học nhưng khó ở chỗ người nào đi học cũng mong sau này “ngồi mát ăn bát vàng” (Ảnh: baodatviet.vn)

Ông cho biết: “chỉ cần khoảng 2000 – 2007, các nhà công nghệ Việt Nam chỉ đăng kí được 19 bằng sáng chế, tức mỗi năm làng nhàng chỉ 2 bằng sáng chế.

mang năm chẳng với bằng nào.Trong cùng thời kì Đó, Thái Lan đăng kí được 310 bằng sáng chế, Singapore 3.644, cao hơn Việt Nam đến 192 lần!

những Thống kê này thực thụ chỉ ra sự hạn chế của thông minh Việt. đầy đủ các nghiên cứu hiện tại trong nước, đề cập cả cấp độ Nhà nước, chỉ là các công trình nghiên cứu theo kiểu tổng kết, hay lặp lại, chứ ko mang đóng góp cho khoa học.

Trên thế giới nghiên cứu kỹ thuật1 trong các tiêu chí để thẩm định, xếp hạng đại học khi mà ngừng thi côngĐây ở Việt Nam hình như đã phớt lờ tiêu chí và cũng là nhiệm vụ này, giả dụ các trường đại học ko gánh vác trọng trách này thì người nào sẽ là người đứng ra gánh vác?

thực tế cho thấy những nhà khoa học ở Việt Nam sống được bằng dự án nghiên cứu chỉ đếm trên đầu ngón tay, hơn nữa nghiên cứu khoa học căn bảnngành nghề đem đến rủi ro cao, chu kỳ thu hồi vốn hơi dài nên để “xã hội hóa” là rất khó, khi mà ngừng thi côngĐây “quy trình” để phân bổ nguồn tiền cho mỗi dự án phải đi qua phổ quát khâu khiến cho hao hụt khiến cho động lực thông minh giảm sút.

Nguồn Thanh Xinh tổng hợp internet

Random Posts

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*
*