Quốc tế hoá giáo dục đại học Việt Nam, những quyết tâm trong khoảng trên xuống

rộng rãi quan niệm thậm chí còn nhấn mạnh rằng, giả dụ chính phủ những nước và lãnh đạo những trường đại học không gia sư lớp 4 tự chủ động quốc tế hoá, thì bản thân phấn đấu quốc tế hoá của các nước, những trường khác sẽ “cuốn phăng” họ đi.

Vậy, giáo dục đại học Việt Nam đã và đang bức xúcvới hành động như thế nào trước khuynh hướng không thể đảo ngược này?

Tòa biên soạn xin được giới thiệu bài viết của tác kém chất lượng Phạm Hiệp, Đại học Văn hóa Trung Hoa, Đài Loan.

Bài 1: các phấn đấu trong khoảng trên xuống

Về nội dung, thể chia quốc tế hoá giáo dục đại học thành các nội dung chính:

1: cán bộ – giảng viên; 2: sinh viên; 3: chương trình – giáo trình và 4: đảm bảo chất lượng; trong chậm triển khai nội dung chung cuộc lại bao chùm ba nội dung trước hết.
Về chủ thể, thể chia thành 2 chủ thể chính của giáo dục đại học là: (A) nhà nước: trong khoảng trên xuống và (B) bản thân các trường: từ dưới lên (xem hình 1).

Trong nội dung bài viết gồm 2 phần này, chúng ta cộng thử điểm qua tình hình quốc tế hoá giáo dục đại học ở Việt Nam trong khoảng 10 năm trở lại đây theo các nội dung kể trên:

HÌnh 1: Nội dung và chủ thể của quốc tế hoá giáo dục đại học.

mặc dù chưa bao giờ với một chương trình riêng biệt tiêu đề bao gồm xác thực 3 chữ “quốc tế hoá”, nhưng ta thể tiện dụng sắm thấy chỉ tiêu này biểu hiện trong phổ biến đề án, chính sách của Chính phủ, của Bộ GD&ĐT và các Bộ ngành nghề liên quan. Dưới đây là một số “nỗ lực” tiêu biểu nhất:

Đề án 322 và 911

Đề án 322 phát động từ năm 2000 với sở hữu hoạt động chính là gửi sinh viên, cán bộ, giảng sư trẻ sang những nước tiên tiến học sau đại học, với kỳ vọng họ sẽ trở về và trở nên nhóm cán bộ, nhà công nghệ trình độ quốc tế trong khoảng thời gian dài.

Đề án 911 thành lập năm 2012, mang thể trợ thì coi là bước nối tiếp của Đề án 322 (kết thúc cùng năm) nhưng thu hẹp khuôn khổ đối tượng chỉ là giảng viên các trường đại học.

Riêng đề án 322, theo Thống kê của Bộ GD&ĐT trong 12 năm đã cử 4.600 người đi học; tính đến thời điểm 2012, đã mang hơn 3.000 người trở về.

Về mặt bản tính, Đề án 322 hay 911 đều nhắm đến nội dung quốc tế hoá lực lượng giảng viên (tương lai). cách làm đã được tương đối nhiều nước, tỉ dụ như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan ứng dụng trước chậm triển khai.

Dự án TRIG

TRIG (Traning and Research Improvement Grantt) là Công trình trong khoảng nguồn vay vốn của World Bank nhằm tăng năng lực giảng dạy và nghiên cứu tại một số trường đại học Việt Nam, thực hiện tại một số trường đại học Việt Nam trong công đoạn 2002-2012.

Nguồn Thanh Xinh tổng hợp internet

Random Posts

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*
*